1. This site uses cookies. By continuing to use this site, you are agreeing to our use of cookies. Learn More.

DGW - một cơ hội cho nhà đầu tư kiên nhẫn

Chứng khoán

viết bởi Lê Vĩnh Thịnh, 11/4/17.

  1. Lê Vĩnh Thịnh

    Lê Vĩnh Thịnh Thành viên chính thức

    Tham gia:
    3/4/17
    Bài viết:
    23
    Được thích:
    31
    Đây là bài phân tích về DGW của cá nhân mình.

    PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG TY
    Thuộc top các nhà phân phối lớn nhất ngành. 2 đối thủ lớn đó là FPT và PSD. DGW hoạt động phân phối điện thoại, laptop và thiết bị văn phòng.
    Doanh thu từ mảng điện thoại Nokia qua các năm 2014 – 2015 – 2016 lần lượt là 2451 – 879 – 0 (doanh thu tỉ đồng). Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến doanh thu và lợi nhuận công ty sụt giảm mạnh những năm qua. Nguyên nhân về việc sụt doanh thu Nokia đến từ rủi ro khách quan từ nhà sản xuất Nokia. Tuy nhiên, trong những năm này DGW lộ ra điểm yếu, tuy công ty là một nhà phân phối sản phẩn laptop lớn trong nước nhưng về mảng phân phối điện thoại chỉ mới bước đầu xâm nhập do nhìn thấy tiềm năng phát triển doanh thu, lợi nhuận từ mảng này. Trong mảng điện thoại, danh mục nhãn hàng của công ty chỉ duy nhất là Nokia nên khi gặp tình huống rủi ro từ phía đối tác thì doanh thu, lợi nhuận sụt giảm lớn vì thiếu sự đa dạng danh mục sản phẩm để bù đắp. 2 mảng còn lại của DGW là laptop và thiết bị văn phòng có sự đa dạng nhãn hàng sản phẩm và sự tăng trưởng mức ổn định gộp lại trong doanh thu và rủi ro từ đối tác là rất nhỏ (mảng laptop có doanh thu chững lại, mảng thiết bị văn phòng tăng ổn định).
    Công ty nhận ra sai lầm trong việc thiếu sự đa dạng nguồn thu nhập. Vào những năm gần đây bắt đầu kí kết hợp đồng phân phối với nhiều hãng điện thoại khác như Obi 12/2015, Intex 5/2016, Freesteel quy4/2016, Wiko (không rõ thgian), mới nhất là Xiaomi đầu 2017. Theo thông tin tìm được thì DGW cũng có phân phối điện thoại motorolla và iphone, nhưng có lẽ chiếm tỉ trọng không lớn.
    Khó khăn cho nhà phân phối hiện nay là việc các nhà bán lẻ lớn (thegioididong,FPT) bắt đầu lấy trực tiếp hàng từ nhà sản xuất (Apple, Samsung). Sự cạnh tranh gián tiếp này khiến doanh thu của các nhà phân phối sụt giảm nghiêm trọng (như xảy ra với FPT). Tuy nhiên, các nhãn hàng được lấy trực tiếp là những nhãn hàng lớn, và chúng không nằm trong danh mục nhãn hàng của DGW. Ban lãnh đạo đã rất thông minh khi đặt trọng tâm vào những nhãn hàng ít tên tuổi hơn, và đánh vào phân khúc tầm trung. Những nhãn hàng này công ty sẽ không gặp phải rủi ro đến từ việc các nhà bán lẻ nhập hàng trực tiếp, khi các hãng Wiko, Obi, Intex, Freesteel, Xiaomi đều được công ty kí hợp đồng phân phối độc quyền. Công ty tập trung vào thị trường cấp thấp, ở các tỉnh thành nhờ hệ thống đại lí phủ khắp thay vì các thành phố lớn, nơi các chuỗi bán lẻ lớn bao phủ.
    40% điện thoại cơ bản tại thị trường nông thôn nhiều khả năng có xu hướng chuyển sang điện thoại thông minh giá rẻ. Đây là phân khúc lợi thế của DGW. 2 thương hiệu Wiko và Obi của DGW lần lượt lọt top 10 và top 5 Tech Award tại VN, 1 tín hiệu lạc quan.
    Việc những thương hiệu điện thoại của DGW đều là những cái ít được biết đến và mới xâm nhập thị trường VN cũng giải thích cho việc biên lợi nhuận mảng điện thoại của công ty giảm so với thời kì Nokia trước đây. Vì là những nhãn hàng mới nên nhiều khả năng công ty phải tổ chức các hoạt động marketing, khuyến mãi để thu hút người dùng, nên biên lợi nhuận sẽ đương nhiên phải thấp hơn so với biên lợi nhuận của Nokia – 1 thương hiệu nổi tiếng. Nếu trong những năm tới, những thương hiệu mới này tìm được chỗ đứng cho riêng mình chắc chắn biên lợi nhuận sẽ được cải thiện, cộng với việc doanh thu tăng là lợi ích kép cho DGW. Về khách quan, không nên quá tin tưởng kì vọng và loại trừ khả năng những thương hiệu này không đáp ứng được thị hiếu khách hàng. Tuy nhiên, việc doanh thu các thương hiệu này tăng trưởng rất tốt trong hai năm đầu xâm nhập thị trường có thể xem là một chỉ báo lạc quan.
    Công ty cũng cho thấy khả năng kinh doanh của mình khi các nhãn hiệu điện thoại không phải Nokia đều tăng trưởng lớn dù mới bắt đầu đi vào thị trường VN. DGW có 6000 đại lí bán lẻ, phủ khắp 63 tỉnh thành, 600 đến 800 nhân viên bán hàng tại đại lí, 4 trung tâm DG supply chain, 3 trung tâm DG care. Công ty cũng là công ty duy nhất trong các công ty phân phối có khả năng về phát triển thị trường, với 5 mảng dịch vụ: nghiên cứu thị trường, bán hàng, marketing, logistic, hậu mãi. Minh chứng cho khả năng của công ty đó là việc dù DGW tham gia sau vào mảng phân phối điện thoại di động, nhưng các nhãn hàng như Wiko, Obi, Intex, Freesteel và đặc biệt là Xiaomi chọn DGW là đơn vị sẽ đem sản phẩm của mình vào thị trường VN. Trong khi họ lại không chọn những nhà phân phối lớn và có sẵn hệ thống bán lẻ nổi tiếng như FPT, điều này cho thấy uy tín cũng như khả năng được khách hàng công nhận. Theo quan điểm cá nhân, dấu hiệu này có thể cho thấy rằng công ty là nhà phân phối được tin tưởng nhất về năng lực, là lựa chọn hàng đầu với những nhãn hàng ít được biết đến khi muốn tấn công vào thị trường VN.
    Một quan điểm chủ quan đó là việc 1 nhà sản xuất đang trên đà đi xuống như Nokia, khi DGW phân phối vẫn đem lại ngay doanh thu và lợi nhuận lớn cũng là cơ sở để tin vào năng lực của công ty. Tuy nhiên, dù sao Nokia vẫn là một thương hiệu lớn với lượng khách hàng trung thành cao hơn nhiều so với các hãng nhỏ ít tên tuổi.
    DGW cũng là 1 trong 50 thương hiệu giá trị nhất VN theo đánh giá của Brand Finance, được đánh giá theo các tiêu chí đó là: chỉ số sức mạnh thương hiệu, mức độ tín nhiệm, và dự báo doanh thu.

    Năm 2015, công ty có 3 nhà kho và 5 điểm tiếp nhận hậu mãi; năm 2016, tăng lên thành 13 nhà kho, 13 điểm tiếp nhận hậu mãi. Những con số cho thấy khả năng logistic, quản lý kho hàng, đáp ứng dịch vụ sau bán hàng của công ty sẽ tăng lên trong thời gian tới; đây là những khả năng cạnh tranh mà mỗi một doanh nghiệp về phân phối nhất thiết phải hoàn thiện. Tuy nhiên, việc này có thể cũng sẽ làm tăng chi phí quản lí, cũng như gia tăng quỹ lương của công ty. Thể hiện rõ nét việc gia tăng chi phí lên lợi nhuận của năm 2016, và công ty cũng giải trình về vấn đề này.
    Có 1 rủi ro đó là việc thị trường điện thoại có thể bão hoà trong 3 năm tới. Rủi ro này tác động đến tất cả từ nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhà phân phối.
    DGW cũng cho biết là sẽ không mở điểm bán lẻ mà sẽ hỗ trợ nhà bán lẻ và giúp các nhãn hàng phát triển thị trường. Việc này vừa giúp công ty không tốn khoảng chi phí mở cửa hàng, vừa khiến công ty được lòng và sự an tâm từ khách hàng khi không gặp phải sự xung đột lợi ích. DGW không gặp phải rủi ro việc các nhà bán lẻ nhập hàng trực tiếp từ nhà sản xuất khi các thương hiệu của mình đều là những thương hiệu độc quyền. Tuy nhiên, DGW có thể gặp rủi ro trong việc các thương hiệu mà mình phát triển cạnh tranh lẫn nhau.
    DGW cũng thành lập công ty con 16/6/2015, TNHH MTV Digiworld Venture, bắt đầu hoạt động vào quý IV/2015, công ty hoạt động nhằm tối ưu hoá khâu logistics và quản lí hoạt động phân phối. Theo kế hoạch được tiết lộ từ DGW thì công ty này mới bắt đầu cho doanh thu, lợi nhuận vào năm 2016.
    DGW có khách hảng nổi bật: Nguyễn Kim, Trần Anh, MWG, Viễn Thông A, FPT shop.
    DGW cũng đang mở rộng sang đối tượng khác hàng điện tử (Adayroi, Lazada, tiki). Ngoài vài trò phân phối trung gian, DGW cũng cung cấp dịch vụ quản lí hàng tồn kho, hoàn thiện đơn hàng. Tuy nhiên, không có nhiều thông tin chi tiết về hoạt động này.
    Có thể thấy 3 mảng của công ty. Mảng ít tiềm năng nhất là mảng laptop khi doanh thu chững lại và sụt giảm trong những năm gần đây. Tuy nhiên, công ty có được sự tăng trưởng ổn định trong mảng thiết bị văn phòng, dù tỉ lệ tăng trưởng không ấn tượng như mảng điện thoại di động (không tính đến Nokia). Tuy nhiên, đây là mảng mang về biên lợi nhuận lớn nhất cho công ty, và theo ý kiến cá nhân, mảng này nguy cơ gặp phải suy giảm doanh thu vài năm tới là rất thấp. Nhiều khả năng sẽ tiếp tục giữ được mức tăng trưởng ổn định. Ngoài ra tiềm năng tăng trưởng mảng điện thoại là rất lớn, tuy rủi ro việc các thương hiệu không đáp ứng thị hiếu luôn hiện hữu với một ngành phát triển nhanh về công nghệ như điện thoại di động (rủi ro từ phía nhà sản xuất). Những phân tích và dự phóng cho thấy đường doanh thu của công ty về khả năng đi lên là lớn hơn, đường lợi nhuận biên những năm tới sẽ đi ngang.
    Công ty kí thêm hợp đồng phân phối cho Ricoh và Xerox (thiết bị văn phòng). Thiết bị văn phòng là ngành khó bùng nổ tăng trưởng như điện thoại, điện máy. Vì đây là sản phẩm tính chất chủ yếu phục vụ các mục đích về công việc, còn điện thoại – điện máy là hàng sản phẩm tiêu dùng. Nhưng ngành thiết bị văn phòng đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và sẽ là nguồn doanh thu đáng tin cậy cho công ty, mảng này cũng là mảng có tỉ suất lợi nhuận gộp 9% cao nhất trong 3 mảng hoạt động hiện nay của DGW.
    Mảng laptop thị phần DGW khoảng 25%, về thị phần phân phối đtdđ thì giảm từ 8.73% năm 2014 xuống 4.66% năm 2015 (không tìm được số liệu năm 2016). Do các thương hiệu điện thoại khác tăng trưởng mạnh nhưng vẫn chưa bù đắp hết sự sụt giảm doanh thu lớn từ mảng Nokia.
    Công ty cũng đang phát triển ngành kinh doanh mới là điện toán đám mây, giải pháp và hướng đi cho các doanh nghiệp vn tiên tiến. Doanh nghiệp vn muốn hội nhập thì phải áp dụng công nghệ vào để tăng năng lực cạnh tranh, phát triển cho riêng mình nếu không muốn tụt hậu so với các đối thủ. Đã có những ông lớn ở vn ứng dụng công nghệ cloud và đạt được thành công (như vinamilk và mwg ứng dụng erp cloud). Điều này cho thấy nhiều khả năng sẽ có làn sóng từ những công ty khác tiếp bước. Có thể đánh giá đây là một mảng đầy tiềm năng của DGW. Tuy nhiên, khả năng kiếm doanh thu và lợi nhuận như thế nào vẫn còn bỏ ngõ.
    http://vietstock.vn/2017/03/digiword-buoc-chan-vao-linh-vuc-kinh-doanh-moi-737-520469.htm
    Các nhà phân phối trong ngành đang đối diện sự cạnh tranh từ các chuỗi bán lẻ, khi những chuỗi này dần nhập hàng trực tiếp từ nhà sản xuất thay vì thông qua phân phối. Tuy nhiên, trong 1 ngành khó khăn như vậy, những công ty phân phối có lợi thế là những công ty có thể mang lại thêm được những giá trị khác biệt cho các khách hàng của mình. Những công ty đó có thể giữ được vị thế trung gian phân phối bằng chiến lược phân phối độc quyền, kèm theo các dịch vụ marketing, dịch vụ phát triển thị trường cho các hãng sản xuất. Và DGW là một trong số ít các hãng làm được điều đó, và có thể nói là công ty duy nhất trong các công ty đại chúng trong ngành phân phối đáp ứng đủ 5 bước dịch vụ đã nêu ở phần trên.
    Doanh thu các nhà phân phối 2010-2015 hầu như không tăng trưởng trong khi các nhà bán lẻ tăng mạnh. Thị phần các cửa hàng nhỏ lẻ ngày càng thu hẹp tác động xấu lên các nhà phân phối. Đây là những tác động chung lên toàn bộ các công ty trong ngành, dẫn đến những nhà phân phối không đủ sức cạnh tranh dần bị loại khỏi cuộc chơi, những người khác có thể sẽ không mặn mà trong việc phát triển, những kẻ đến sau sẽ không xuất hiện. Dẫn đến một lợi thế rõ ràng cho những nhà phân phối có sức cạnh tranh tốt, đây là những kẻ sẽ thu được lợi lớn khi khó khăn đi qua và miếng bánh được cắt ít phần hơn.
    FPT từng công bố việc tìm đối tác bán lại FPT trading và FTD retail, quan điểm cá nhân đó là khi rao bán mảng phân phối FPT sẽ không bỏ ra thêm nhiều vốn để đầu tư vào thởi điểm hiện tại trước khi có quyết định cuối cùng, việc một trong những đối thủ chính trong ngành cho thấy sự không mặn mà là một tín hiệu tốt đối với DGW. Ngay cả PET cũng không có động thái rõ ràng cho thấy mong muốn phát triển.
    Sự sụt giảm từ Nokia của DGW đã kết thúc tuy nhiên sự sụt giảm từ Samsung, Apple của PET, FPT vẫn còn. Việc này không hẳn đã là điều tốt với DGW. Bởi vì tuy những thương hiệu Samsung, Apple không liên quan đến doanh thu DGW nhưng việc các đổi thủ sụt giảm doanh thu từ thương hiệu phân phối truyền thống có thể sẽ gắng tìm những thương hiệu khác để thay thế, điều này có thể ảnh hưởng đến DGW. Các thương hiệu thay thế đó có thể là những thương hiệu mà DGW đang sở hữu hoặc những thương hiệu muốn hợp tác với DGW trong tương lai. Tuy nhiên, các thương hiệu hiện tại vẫn đang được bảo vệ tốt nhờ hợp đồng phân phối độc quyền.
    Tất cả những điều trên cho thấy DGW đang nỗ lực tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của mình để thích nghi với tình hình, dần thoát khỏi những hậu quả từ Nokia.
    Được biết rằng công ty tốn nhiều cho chi phí quản lí và bán hàng do mở rộng hệ thống kho và dịch vụ sau bán hàng. Chi phí tăng đương nhiên là tin không vui, nhưng ta hãy đặt một câu hỏi rằng, tại sao lại gia tăng đầu tư mở rộng này bất chấp sụt giảm lớn trong lợi nhuận hiện tại, nếu ban lãnh đạo không tin tưởng vào hướng đi, tiềm năng phát triển của công ty trong những năm sắp tới? không ai hiểu rõ doanh nghiệp bằng những người làm việc trong nó. DGW là một nhà phân phối đầu ngành và đã hoạt động gần 20 năm, điều này ít nhiều chứng tỏ khả năng của ban lãnh đạo.
    Theo đánh giá chủ quan, vào thời điểm này, earning power của DGW đang mạnh hơn nhiều so với thời điểm những năm trước đây, kể cả những năm 2013, 2014. Tiềm năng tăng trưởng có, sự đa dạng doanh thu có. Giả sử tương lai xảy ra việc sụt giảm doanh thu đột ngột từ một nhãn hàng tương tự như đối với Nokia, thì tác động lên tổng doanh thu và lợi nhuận của DGW có thể được giảm nhẹ đi rất nhiều.
    Hướng đi của DGW rất thông minh khi tạo ra thị trường mời cho các hãng ít tên tuổi. Thay vì lao vào cạnh tranh thị phần phân phối sản phẩm từ các hãng lớn với đối thủ.
    Nhận thấy một tiềm năng để trở thành nhà phát triển thị trường hàng đầu cho các thương hiệu muốn vào VN, thậm chí có thể vươn ra khỏi ngành phân phối ICT để phân phối nhiều sản phẩm khác như hàng tiêu dùng, thực phẩm nước ngoài nếu công ty có định hướng tăng trưởng. Vn không có nhiều những công ty sản xuất ra những sản phẩm tuyệt vời như các quốc gia phát triển khác. Thứ mà Vn có là miếng bánh thị trường 90 triệu dân, khi muốn vào Vn các thương hiệu (đặc biệt là các thương hiệu ít được biết đến trong nước như Wiko, Obi, …) cần có một nhà phân phối, có năng lực nghiên cứu phát triển thị trường như DGW.
    Lợi thế của DGW cũng đên từ văn hoá doanh nghiệp được vun đắp qua nhiều năm. Công ty cũng xây dựng thương hiệu khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thiện nguyện, có quỹ từ thiện riêng. Quy trình quản lý hoàn thiện. Hệ thống nhân sự ổn định, có trình độ, được làm việc trong môi trường năng động. Mối quan hệ giữa ban lãnh đạo và người lao động tốt; ban lãnh đạo là những người kinh nghiệm, có năng lực, năm bắt được xu thế đổi mới. Công ty áp dụng công nghệ vào các quy trình hoạt động. Quản lý công ty bằng ERP, SAP tiên tiến.
    Công ty có thương hiệu, tiềm năng từ kinh doanh, con người và cả mức giá lợi thế. Mức giá may mắn có được sau khi công ty gặp cú vấp do rủi ro khách quan từ phía thương hiệu Nokia. Cú vấp này không hề thể hiện sự yếu kém hay sụt giảm về tiềm năng kinh doanh của công ty nhưng lại làm thay đổi nhận thức lạc quan của thị trường.

    Những điểm đáng chú ý từ các báo cáo công bố bởi công ty:
    Những nguyên nhân khiến kết quả kinh doanh 2016 không đạt chỉ tiêu đề ra từ công ty:
    -Mức tiêu thụ sản phẩm không cao như dự báo
    -Thời gian ra mắt sản phẩm của các hãng chậm hơn so với dự kiến
    -Đa phần là thương hiệu mới, nên cần nhiều thời gian hơn để đạt được kết quả như kì vọng
    Cơ cấu doanh thu được công bố từ công ty cho thấy tất cả các mảng đều đang kinh doanh tốt. Trừ mảng laptop ra thì các mảng còn lại đều tăng trưởng.
    Mạng lưới đại lý của DGW lần lượt qua các năm 2013 là 2000 đại lý, 2014 là 5500, đến nay ghi nhận mới nhất là 6000 đại lý (tính đến tháng 6/2015). Độ bao phủ của công ty lớn hơn qua từng năm. Từ đó cho thấy khả năng tạo doanh thu cũng tốt hơn. Hệ thống đại lý của công ty cũng chia làm nhiều nhóm đa dạng từ những nhà bán lẻ lớn (mwg, fpt,viễn thông A,…), các hệ thống siêu thị điện máy, công ty bán lẻ máy tính, đến 2 nhóm VAR – value added reseller và SI – system intergrated.
    Công ty đã thiết lập mối quan hệ cũng như là nhà phân phối chính thức và độc quyền với gần 20 sản phẩm và thương hiệu. (Nổi bật trong số đó có Acer, Asus, HP, Dell, Toshiba, Logitech, Lenovo, Xerox, Ricoh, Xiaomi,…)
    Công ty chú trọng trong việc quản lý hàng tồn kho thông qua sự phân tích các dữ liệu được thống kê từ hệ thống ERP-SAP, nhờ đó hạn chế được rủi ro hàng tồn kho chậm tiêu thụ, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của biến động giá sản phẩm từ nhà cung cấp. DGW là công ty phân phối đầu tiên áp dụng ERP từ năm 2010.
    Công ty sở hữu quỹ đất 5595 m2 tính đến Quý I/2015.
    Công ty luôn đảm bảo thanh toán nợ vay đúng hạn và được các ngân hàng trong ngoài nước đánh giá cao, vì vậy hạn mức tín dụng lẫn lãi suất vay của DGW khá tốt.



    XEM XÉT BCTC 2016:
    Bảng cân đối
    Công ty có tỉ lệ tài sản cố định chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng tài sản. Trong đó tài sản cố định hữu hình chỉ chiếm 33% tổng tài sản cố định. Công ty không phải tốn nhiều chi phí vốn lớn để thay mới hay xây dựng thêm nhằm mơ rộng kinh doanh.
    Phần phải thu ngắn hạn khách hàng lớn, phản ánh tính chất của cơ cấu tài chính các công ty trong ngành phân phối. Xét đến rủi ro khách hàng không thanh toán, ta thấy có 20% khoản này liên quan đến 2 khách hàng lớn và uy tín là MWG và Nguyễn kim; công ty cũng được phép dùng một phần phải thu khách hàng để thế chấp đảm bảo cho các khoản vay ngân hàng, điều này cho thấy các ngân hàng cũng không đánh giá rủi ro từ việc khách hàng không thanh toán là lớn. Trong khi đó công ty cũng đã lập ra khoản dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi. Rủi ro về việc mất các khoản này là nhỏ.
    Nợ chiếm 51% tổng nguồn vốn. Công ty hầu như không có nợ dài hạn; nợ dài hạn của công ty là hơn 4 tỉ vnđ ghi nhận ở BCTC hợp nhất 2016. Nợ ngắn hạn nằm trong khả năng thanh toán của công ty, chỉ tính riêng hàng tồn kho công ty cũng có thể đảm bảo cho toàn bộ nợ. 2 khoản mục lớn nhất trong nợ ngắn hạn đó là phải trả người bán ngắn hạn và vay ngắn hạn, đây là đặc điểm chung về cơ cấu tài chính trong ngành phân phối – bán lẻ công nghệ, vì công ty cần lượng tiền lưu động lớn để đảm bảo lưu chuyển vốn trong kinh doanh, không có gì đáng lo.
    Trong năm 2016, nợ vay ngân hàng của công ty cũng được giảm xuống so với năm 2015.
    Trong năm 2016, công ty trả cổ tức bằng tiền gần 55 tỉ vnđ, chiếm hơn 80% lợi nhuận thuần sau thuế. Trong 1 năm tình hình kinh doanh sụt giảm, và đang dồn nguồn lực cho việc kinh doanh những năm tới, công ty vẫn đảm bảo 1 tỉ lệ cổ tức cao như vậy. 1 dấu hiệu cho thấy công ty có tình hình tài chính hoàn toàn vững mạnh và sự tự tin của ban lãnh đạo vào thành công những năm tới của công ty.
    Báo cáo kinh doanh
    Biên lợi nhuận gộp của công ty ổn định qua các năm. 2 năm gần đây có biên lợi nhuận gộp là 6.2% cao hơn so với 5.8% và 5% của lần lượt các năm 2014 và 2013.
    Chi phí bán hàng và chi phí quản lí doanh nghiệp tăng mạnh, từ phía giải trình của công ty đó là phục vụ gia tăng đội ngũ chuẩn bị phát triển kinh doanh trong thời gian tới. Đây là một nguyên nhân chính dẫn đến việc lợi nhuận năm 2016 sụt giảm mạnh so với các năm trước. Ta thấy có sự gia tăng lớn trong các khoản chi phí nhân công, chi phí dịch vụ mua ngoài và đặc biệt là chi phí khác. Có thể chi phí khác ở đây là các chi phí marketing tăng mạnh do công ty đang thực hiện phát triển thị trường cho các thương hiệu mới trong năm; tuy nhiên đây chỉ là dự đoán cá nhân. Cần theo dõi khoản mục chi phí này trong các BCTC được công bố trong thời gian tới để có thể đánh giá được đúng hơn.
    Chi phí tài chính được giảm đáng kể, công ty cho thấy vào năm 2016, chi phí tài chính không phải lãi vay thu hẹp rất lớn so với các năm trước (chỉ hơn 5 tỉ so với 17 tỉ mỗi năm vào 2015 và 2014). Trong khi đó chi phí lãi vay không hề tăng lên so với các năm trước (chi phí lãi vay lần lượt các năm 2013, 2014, 2015 và 2016 lần lượt là 34, 25, 23 và 22 tỉ vnđ).
    Báo cáo lưu chuyển tiền
    Lưu chuyển tiền thuần từ hđkd của công ty dương so với bị âm ở những năm trước, kể cả trong nhưng năm có lợi nhuận lớn hơn nhiều so với 2016. Chủ yếu đến từ các khác biệt ở tăng (giảm) hàng tồn kho và tăng (giảm) các khoản phải trả. Điều này cho thấy công ty đang kiểm soát được dòng vốn lưu chuyển phục vụ kinh doanh và kiểm soát hàng tồn kho tốt hơn.
    Không có gì đáng chú ý ở phần lưu chuyển tiền hđ đầu tư và hđ tài chính.
    Để ý rằng lượng tiền đi vào công ty trong những năm trước chủ yếu là nguồn tiền từ hđ tài chính, thì trong năm 2016 nguồn tiền vào công ty chủ yếu đến từ hoạt động kinh doanh. Đây là 1 dấu hiệu tốt cho thấy công ty cải thiện khả năng tài chính. Việc kiểm soát dòng vốn tốt hơn, giúp công ty không phải vay ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn (điều phản ánh lượng vay ngắn hạn của công ty năm 2016 giảm), giúp giảm lãi vay, cải thiện biên lợi nhuận.
    Phân tích rộng hơn từ BCTC
    Công ty có lợi nhuận sau thuế trên BCTC là 66.7 tỉ. Free cash flow theo tính toán là 63.8 tỉ. Lợi nhuận thực từ hoạt động kinh doanh (operate earning) trong khoảng từ 60.7 (với giả định tệ nhất) đến 75 tỉ (giả định tốt nhất). LN thực từ hđkd tính bằng cách loại đi tác động của những khoản mục được cho là bất thường ngoài hoạt động kinh doanh hàng năm.Ta thấy những con số không quá xa nhau. Vậy không cần xét đến việc lợi nhuận trên BCTC của công ty có bị overrated hay underrated dưới tác động của các nguyên tắc ké toán hay không. Trong quá trình tính toán và đối chiếu các BCTC cũng cho thấy được kết quả kinh doanh mà công ty thể hiện trên báo cáo thu nhập đảm bảo tính minh bạch, trung thực. (Vì gần đây nhiều vụ việc kế toán sai lệch được phanh phui, nên trường hợp này cẩn thận vẫn hơn)
    (Những giả định trong đoạn trên xét theo việc chi phí marketting và phát triển thị trường trong năm đầu giành cho các thương hiệu mới sẽ chiếm bao nhiêu trong mục chi phí khác thuộc phần chi phí bán hàng; vì khoản chi phí này trong những năm sau đương nhiên sẽ không lớn bằng năm đầu xâm nhập thì trường)
    Xem xét giá trị của lợi nhuận thuần báo cáo lên phần vốn chủ sở hữu, mọi con số đều khớp. Không xào nấu gì từ phía công ty.

    SO SÁNH BCTC QUA CÁC NĂM (từ 2013-2016):
    Tổng cộng nguồn vốn tăng mạnh vào giai đoạn 2013 – 2014 (tăng 32%), từ thời điểm đó đến 2016 không có nhiều thay đổi. Tỉ lệ nợ trên tổng nguồn vốn bắt đầu từ 2015 đến hết 2016 cho thấy những dấu hiệu tích cực chỉ còn ở mức 51% so với 74% ở hai năm 2013 và 2014; nguyên nhân do công ty gọi thêm vốn từ đại chúng và tích luỹ được nguồn vốn từ hoạt động kinh doanh khả quan vào khoảng thời gian này. Nợ dài hạn gần như không còn vào cuối 2016 (còn 4 tỉ vnđ). Những điều này cho thấy vị thế tài chính của công ty được cải thiện rõ rệt qua các năm.
    Tỉ trọng chi phí lãi vay trên tổng chi phí ngày càng giảm (bao gồm chi phí tài chính, chi phí bán hàng và quản lí doanh nghiệp, chi phí khác):
    2013 33.8%
    2014 16.7%
    2015 15.3%
    2016 12%

    Tài sản ngắn hạn từ năm 2014 đến nay không có biến động đáng chú ý. Tài sản cố định gần như không thay đổi trong khi doanh thu công ty tăng tương đối trong khoảng thời gian này, nghĩa là earning power không lệ thuộc nhiều vào tài sản hữu hình; đây là dấu hiệu cho thấy công ty có khả năng tăng trưởng mà không cần phải tốn nhiều chi phí đầu tư vào tài sản hữu hình, những công ty có lợi thế này nên nhận được sự chú ý từ nhà đầu tư.
    ROA và ROE của công ty suy giảm từ năm 2013 đến năm 2016 vì nhiều lí do; chi phí tăng, nguồn vốn lớn hơn và vị thế tài chính mạnh hơn nhưng công ty hoạt động chưa hiệu quả, gặp khó khăn từ hoạt động kinh doanh.
    Qua đánh giá về bctc công ty thời kì từ năm 2013 – 2016, ta thấy rằng hoạt động kinh doanh công ty trong thời kì này suy giảm vì nhiều lí do, tuy nhiên vị thế tài chính của công ty thì mạnh hơn thấy rõ. Vị thế tài chính mạnh hơn có thể là bàn đạp vững chắc để công ty khởi sắc trong thời gian tới. Công ty đang bước vào giai đoạn nỗ lực vượt qua suy giảm những năm trước và tăng trưởng với vị thế tài chính mạnh nhất trong các năm qua.
    DỰ PHÓNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
    Xem qua 2 biểu đồ về doanh thu của DGW trong năm 2016 (2 biểu đồ được lấy từ báo cáo phân tích của các công ty chứng khoán)
    [Xin lỗi mọi người vì mình không biết cách hiển thị các biểu đồ này trong bài viết o_O\nO_o\no.O\nO.o. Tuy nhiên nếu ai cần những charts này để có nguồn thông tin tốt hơn cứ thoải mái nhắn tin cho mình, mình sẽ cung cấp; vì số liệu từ biểu đồ cũng được dùng để tính toán ở bên dưới ]

    Doanh thu DGW đến từ 3 nguồn chính là điện thoại di động (đtdđ), laptop, thiết bị văn phòng (tbvp). Thiết bị văn phòng sẽ là mảng tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, nhu cầu của mảng này sẽ khó có thể sụt giảm xét trong môi trường hiện nay. Mảng laptop sẽ không tăng trưởng hoặc có thể sẽ sụt giảm nhẹ vì thị trường laptop đang bão hoà trong những năm qua, nên ở mảng này tình hình có thể sẽ không khả quan hơn cho DGW, giữ được đường doanh thu đi ngang ở mảng này là đủ tốt cho DGW trong năm 2017; tuy nhiên không nên loại trừ khả năng thị trường laptop có thể khởi sắc trong vài năm tới.
    Dù trong các năm trước việc mất đi nguồn doanh thu từ Nokia đã kéo doanh thu của toàn bộ mảng đtdđ đi xuống. Mảng quan trọng nhất với DGW trong thời gian tới sẽ là mảng đtdđ, không tính đến sự sụt giảm của Nokia thì mảng này đang có sự tăng trưởng vượt bậc trong thời gian qua, mặc dù các thương hiệu mà DGW phân phối là những thương hiệu ít được biết đến và chỉ vừa mới vào thị trường Vn. Với sự bổ sung thương hiệu nổi tiếng Xiaomi vào đầu năm 2017 cùng với việc khách hàng bắt đầu quen với các thương hiệu như Obi, Wiko,… Ta hoàn toàn có lý do để tin tưởng vào sự bùng nổ doanh thu của toàn mảng đtdđ trong thời gian sắp tới.
    Ngoài ra DGW cũng vừa hợp tác với đối tác nước ngoài phát triển mảng kinh doanh mới là dịch vụ phát triển cloud – điện toán đám mây cho các doanh nghiệp.
    Ta có thể hoàn toàn lạc quan vào tình hình kinh doanh sắp tới của DGW.


    ĐỊNH GIÁ DGW QUA MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG ĐỐI
    Một công ty với tiềm năng như DGW có chỉ số P/B chưa đến 1.1. Tính toán giá trị tài sản của công ty hiện tại theo cách cẩn trọng nhất vẫn là trên 1000 tỉ (trong bctc là 1306 tỉ) trừ đi hoàn toàn nghĩa vụ nợ 677 tỉ ta thu được 323 tỉ; con số bằng đến một nửa số tiền mà ta bỏ ra để mua toàn bộ công ty, trong khi DGW là một công ty hoàn toàn có khả năng kiếm được lợi nhuận, chưa đề cập đến khả năng tăng trưởng. Mức P/B là 1.1 tức là ta mua một công ty chỉ cao hơn 10% so với lượng vốn đã bỏ vào đề gầy dựng công ty tới thời điểm hiện tại. Ta được trả giá thấp cho tiềm năng tăng trưởng lớn mà DGW có.
    Định giá tương đối theo một phương pháp khác. Xem ba mảng của DGW là ba công ty khác nhau, dựa vào hai biểu đồ về doanh thu bên trên ta có thể ước lượng về mức PE hợp lí dành cho đtdđ, laptop, tbvp lần lượt là 15, 8, 12 (Mảng đtdđ đang có tỉ lệ tăng trưởng vượt bậc còn mảng tbvp vẫn đảm bảo tỉ lệ tăng trưởng ổn định trên mức 30% trong những năm qua nên lấy mức PE lần lượt là 15 và 12 có thể xem như là cẩn trọng). Bằng cách so sánh tỉ trọng doanh thu, ta có thể tính được giá trị vốn hoá tương đối cho 3 công ty con nếu tách riêng đtdđ, laptop, tbvp lần lượt là 364, 267, 120; tổng giá trị vốn hoá được tính một cách tương đối hợp lí của 3 mảng khi tách riêng ra là 750, vẫn cao hơn so với giá trị vốn hoá hiện tại của DGW.
    Chỉ định giá một cách tương đối ta vẫn có thể nhận thấy được mức giá hiện tại của cổ phiếu DGW là rẻ so với giá trị nội tại.

    TỔNG KẾT
    Rõ ràng nguồn lực của DGW hiện tại tốt hơn rất nhiều so với những năm trước đây, tiềm năng đạt được kết quả kinh doanh khả quan DGW trong thời gian tới lớn hơn nhiều so với khả năng đi xuống. Mức giá hiện tại của MWG cũng đem lại một lợi thế lớn về khả năng thu lợi nhuận. Mức giá thấp này bị ảnh hưởng một phần từ sự chán nản của thị trường lên DGW. Thị trường đã từng hào hứng và kì vọng quá lớn vào DGW và công ty đã không đáp ứng được sự kì vọng đó. Đến bây giờ, thị trường lại quay lưng với DGW khi nó bắt đầu có những dấu hiệu lạc quan.
     
    Tags:
    dash177 thích nội dung này.
    Đang tải...
  2. dash177

    dash177 Thành viên uy tín

    Tham gia:
    9/8/12
    Bài viết:
    2,347
    Được thích:
    8,965
    1. dài quá
    2. sách vở quá
    3. chém gió về blđ quá
    ---
    1 điểm về làm lại, mai nộp a nhé :D
     
    thienbinh, Lê Vĩnh Thịnhroberttit thích nội dung này.
  3. nguoibuonchungkhoan

    nguoibuonchungkhoan Thành viên chính thức

    Tham gia:
    7/4/17
    Bài viết:
    28
    Được thích:
    57
    làm đầu tư khác với làm phân tích. Có nhiều yếu tố cần đặt vào xem xét. so sánh tương quan với cùng ngành, với các ngành khác ...., mức độ phổ thông của cổ phiếu, tiềm năng của ngành trong tương lai so với các nhóm ngành khác để hút tiền tổ chức?có hút được tiền tổ chức dài hạn thì mới dễ hút tiền đầu cơ. return từ deal kỳ vọng như thế nào với thời gian bao lâu? .... . Nhiều yếu tố lắm. trên sàn thiếu gì doanh nghiệp tốt nhưng ko có tăng được là không có tăng được. Giám đốc phải là người biết làm maximize value của stockholder từ việc ra tin, tiếp xúc nhà đầu tư....bạn có biết tại sao trong lĩnh vực start-up nhà đầu tư sẵn sàng rót cả núi tiền dù biết tỷ lệ thành công rất thấp, doanh nghiệp mất cả chục năm ko có lãi ko? Tại sao ông Duy Hưng lại phải làm riêng một tờ báo NDH.vn. Định giá hay gì gì chỉ là 1 khía cạnh thôi. Khía cạnh quan trọng nhất là management board phải biết sell cái stock đó trên thị trường tài chính thật tốt. Bạn đang sell DGW nhưng nhìn cách bạn sell như vậy thì tôi thấy xác suất thành công ko cao. ngày trước thì tin ra là gom. dần dần thì tin ra là bán. ngay cả việc sell một cổ phiếu cũng phải chọn giai đoạn phù hợp.
     
    Last edited: 11/4/17
    Lê Vĩnh Thịnhroberttit thích nội dung này.
  4. daikac2

    daikac2 Thành viên mới

    Tham gia:
    16/1/13
    Bài viết:
    51
    Được thích:
    18
    so với cùng ngành thì đang thụt lùi
     
    Lê Vĩnh Thịnh thích nội dung này.
  5. nguoibuonchungkhoan

    nguoibuonchungkhoan Thành viên chính thức

    Tham gia:
    7/4/17
    Bài viết:
    28
    Được thích:
    57
    chuyên gia phân tích đâu rồi? nên mua tiếp hay quan sát?
     
  6. sbc123

    sbc123 Thành viên uy tín

    Tham gia:
    21/8/13
    Bài viết:
    288
    Được thích:
    904
    Quan điểm của em thế này:
    1. DGW tạo ra thị trường cho Obi, Intex, và những dòng này có phân phối độc quyền --> nếu thành công thì sẽ rất OK
    2. Những dòng sp như Xiaomi nổi tiếng, liệu DGW (và các cửa hàng nhỏ lẻ) liệu có cạnh tranh đc với MWG, FPT shop ... Cuộc chiến này khá khó nói.
    3. Công ty đang trong nỗ lực đa dạng hóa doanh thu, gia nhập những mảng mới như Cloud, thực phẩm chức năng --> vẫn là dạng tiềm năng
    4. Các công nghệ hỗ trợ hệ thống bán hàng ERP mà công ty xây dựng trong năm 2016 sẽ là bàn đạp rất tốt cho công ty trong thời gian tới khi cung cấp giải pháp theo kiểu B2B, B2C (qua tiki, adayroi, ....).
    5. Về định giá: với mức 15 k, có vẻ giá ko quá đắt, nhưng cũng ko thực sự rẻ cho việc bet cho các tiềm năng chưa thể thấy rõ.
    Và 1 điểm quan trọng nữa, DGW dường như chưa biết mình fai tập trung vào cái j, dường như vẫn đang ném đá dò đường là chính. Trường hợp như thế này rất dễ rơi vào như FPT ngày trước, cái j cũng làm.

    P/s: e cũng vừa nghiên cứu DGW, may quá đọc đc bài của bác Thịnh đây, tiện tay ném đá xuống mặt hồ yên ả tý :)).
     
    Lê Vĩnh Thịnhphucnguyen thích nội dung này.
  7. Lê Vĩnh Thịnh

    Lê Vĩnh Thịnh Thành viên chính thức

    Tham gia:
    3/4/17
    Bài viết:
    23
    Được thích:
    31
    Hãy cứ làm những gì bạn cho là đúng. Đơn giản vậy thôi.
     
  8. Lê Vĩnh Thịnh

    Lê Vĩnh Thịnh Thành viên chính thức

    Tham gia:
    3/4/17
    Bài viết:
    23
    Được thích:
    31
    E cám ơn những góp ý của bác :D
     
  9. Lê Vĩnh Thịnh

    Lê Vĩnh Thịnh Thành viên chính thức

    Tham gia:
    3/4/17
    Bài viết:
    23
    Được thích:
    31
    Có 1 điểm e chú ý DGW nữa là vì chi phí trội lên của nó về bản chất giống với một chi phí R&D, nhưng công ty xem nó như là một chi phí hđkd bình thường và trừ một lần.
     
  10. dash177

    dash177 Thành viên uy tín

    Tham gia:
    9/8/12
    Bài viết:
    2,347
    Được thích:
    8,965
    11/04 - 18/04 quá hạn 6 ngày không thấy viết được cái gì mới; vậy cũng đòi nộp cv vào quỹ :roflmao:
     
    vananh1211 thích nội dung này.
  11. Nothingness

    Nothingness Thành viên chính thức

    Tham gia:
    23/11/13
    Bài viết:
    26
    Được thích:
    86
    Interesting write-up. Keep going!
     
    Lê Vĩnh Thịnh thích nội dung này.
  12. Lê Vĩnh Thịnh

    Lê Vĩnh Thịnh Thành viên chính thức

    Tham gia:
    3/4/17
    Bài viết:
    23
    Được thích:
    31
    Giá cp của DGW đang là 16,550 vnđ (vốn hoá 655 tỷ), P/E là 12.5, và P/B là 1 (giá trị sổ sách cuả DGW cấu thành chủ yếu bởi tài sản lưu động)

    Quan điểm về DGW:
    - Thương hiệu, uy tín, danh mục khách hàng, năng lực đội ngũ... những giá trị vô hình mà DGW đã xây dựng được đến nay.
    - Vấn đề cạnh tranh trong hđkd của DGW xảy ra ở nhiều hướng: giữa các khách hàng là nhà bán lẻ, giữa các khách hàng là nhà sản xuất, giữa DGW và đối thủ trực tiếp (FPT, PET, có thể là cả DKSH), và gián tiếp (MWG, FPT shop)
    - DGW có thị trường rộng lớn để tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, và ban lãnh đạo của DGW cho thấy quyết tâm đạt được điều đó, không ngại thay đổi. Tuy nhiên, để đi đến thành công, DGW còn phải chứng minh rất nhiều thứ, bức tranh của DGW hiện nay không rõ ràng. Khả năng DGW thất bại trong nỗ lực trở thành nhà cung cấp dịch vụ phát triển thị trường là hoàn toàn có. Vậy nếu DGW thất bại, DGW sẽ vẫn là nhà phân phối laptop và thiết bị văn phòng hàng đầu VN.
    - DGW + B2x, sự hợp tác này tôi tin rằng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho DGW (cải thiện mảng hậu mãi, chăm sóc khách hàng, nhận được tư vấn và học hỏi từ B2x - công ty dịch vụ chăm sóc khách hàng hàng đầu chuyên về điện thoại thông minh và thiết bị kết nối internet). DGW không hề chạy theo kỳ vọng mà bỏ quên những gì mình đã gây dựng.
    - DGW là một công ty dịch vụ, sự thành công của DGW một phần khách quan cũng không hề phụ thuộc vào chỉ năng lực của DGW, mà còn từ phía sản phẩm của nhà sản xuất. Liệu DGW có đủ khả năng để giúp các thương hiệu nhỏ giành được thị phần trước những thương hiệu lớn vẫn còn là dấu hỏi.
    - HĐKD của DGW là kiểu kinh doanh bán chất xám, không cần vốn đầu tư lớn, nếu công ty chứng minh được khả năng, giá trị mang lại cho cổ đông là vô cùng lớn.

    Nhận thức được những thử thách mà DGW sẽ phải đối mặt nếu muốn thành công. Tuy nhiên, quan điểm cá nhân tin rằng reward/risk ratio trong trường hợp DGW đang khiến nó là một khoản đầu tư rất hấp dẫn.
     
    toankt41 thích nội dung này.

Chia sẻ trang này

Đang tải...